Giáo dục

CÔN ĐẢO LINH THIÊNG NGHĨA TÌNH SÂU ĐẬM

– Năm nay, cả nước kỷ niệm 72 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2019) hết sức chu đáo, thiết thực, hiệu quả, thể hiện rõ bước tiến mới trong phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta đối với những người, những gia đình có công với nước.

Điều đó càng thể hiện sâu đậm hơn tại Côn Đảo, mà tiêu điểm là tại nghĩa trang Hàng Dương, nơi yên nghỉ trên mảnh đất giữa biển khơi của khoảng 20 nghìn Anh hùng, Liệt sĩ, người yêu nước thuộc khắp các vùng, miền Tổ quốc.

Côn Đảo bị coi là “Địa ngục trần gian” suốt 113 năm, từ năm 1862 đến 30/4/1975 với những kiến trúc, kỹ thuật giam cầm, tra tấn con người dã man, tàn bạo khủng khiếp nhất của bọn thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hòng khất phục, dập tắt tinh thần đấu tranh, ý chí kiên cường vì độc lập, tự do của các thế hệ người Việt Nam, các chiến sĩ cách mạng, nhưng chúng đã hoàn toàn thất bại.

Bản chất khách quan của Côn Đảo là thiên đường giữa biển khơi, là một phần máu thịt của đất nước Việt Nam giàu đẹp mà ngoại bang luôn thèm khát. Nhưng đất nước, dân tộc Việt Nam nói chung, Côn Đảo nói riêng luôn là địa linh, nhân kiệt, hồn thiêng sông núi tích tụ suốt mấy nghìn năm tạo nên sức mạnh vô địch trong bảo vệ, xây dựng bờ cõi đất liền, biển đảo, cho nên bọn xâm lăng đã hoàn toàn thất bại. Côn Đảo đã trở lại với cuộc sống độc lập, tự do, thanh bình, hạnh phúc tử ngày 30/4/1975. Côn Đảo là một quần đảo nhiệt đới rất giàu đẹp với 16 hòn đảo quây quần giữa biển khơi, thảm thực vật quanh năm xanh ngát, nhiều loài thuốc quý trong rừng nguyên sinh, nhiều loài động vật thu hút sự ngưỡng mộ, quan tâm đặc biệt của thế giới, nhất là những tổ chức, cá nhân hàng đầu nghiên cứu về lĩnh vực này.

Hầu hết khách ra thăm Côn Đảo đều tới viếng Nghĩa trang Hàng Dương rộng 190.000m2 từ đồi cát vốn xưa hoang vắng chạy dài xuống phía Đông – Nam của đảo. Theo số liệu ước tính, có khoảng 20.000 tù nhân đã chết ở Côn Đảo, trong đó phần lớn nằm ở Hàng Dương với những Liệt sĩ tiêu biểu như Nguyễn An Ninh, Lê Hồng Phong, Võ Thị Sáu, bên cạnh đó còn các nghĩa trang nhỏ hơn ở khu vực Chuồng Bò, Hàng Keo và còn rất nhiều người mà thân xác đã hòa vào lòng đất, nước biển ở khắp quần đảo linh thiêng này… Sân hành lễ nằm ở trung tâm nghĩa trang với một tượng đài biểu tượng trao áo, cao 9m, nặng 25 tấn, được tái tạo từ câu chuyện “ Chết còn cởi áo cho nhau”, người trao áo là ông Vũ Văn Hiếu, nguyên Bí thư đầu tiên của đặc khu ủy mỏ Hòn Gai, người nhận áo nguyên là cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Tất cả những người đến viếng nghĩa trang Hàng Dương đều đến viếng nữ Anh hùng Liệt sĩ Võ Thị Sáu (sinh năm 1933, hy sinh năm 1952) – người con của vùng Đất Đỏ, Bà Rịa – Vũng Tàu. Lịch sử còn ghi rõ: Sau khi thực dân Pháp được sự hậu thuẫn của đế quốc Mỹ tái chiếm vùng Đất Đỏ vào cuối năm 1945, các anh trai của Chị Sáu đã thoát ly gia đình, tham gia công cuộc kháng chiến của Việt Minh. Chị Sáu bí mật tiếp tế cho các anh, rồi theo anh trai là Võ Văn Me vào chiến khu, làm liên lạc viên, đến năm 1947, Chị trở thành đội viên chính thức của Công an xung phong Đất Đỏ khi mới 14 tuổi. Chị đã tham gia nhiều trận tập kích bằng lựu đạn tấn công bất ngờ các sĩ quan Pháp và Việt gian; đặc biệt là trận tập kích bằng lựu đạn tại lễ kỷ niệm Quốc khánh Pháp ngày 14/9/1949 tại Đất Đỏ làm cho bọn cướp nước và bán nước khiếp sợ…

Tiếc rằng, trong một trận đánh, quả lựu đạn thứ 3 không nổ và Chị bị địch vây bắt! Tháng 4/1950, tòa án binh của Pháp đưa Chị Sáu ra xét xử với tội danh làm chết một sĩ quan Pháp và 23 người Việt cộng tác với Pháp. Ngay tại phiên tòa, Võ Thị Sáu đã hiên ngang tuyên bố: “Yêu nước chống bọn thực dân xâm lược không phải là tội”; lúc ấy, Chị chưa tròn 18 tuổi, các luật sư bảo vệ đã tranh biện để đưa Võ Thị Sáu thoát khỏi án tử hình (theo pháp luật của Cộng hòa Pháp), nhưng vì khiếp sợ trước khí phách anh hùng của chị Sáu và lo sợ sự lan tỏa phong trào kháng chiến chống thực dân, bọn chúng vẫn quyết tuyên án tử hình…

Tuy nhiên, chính quyền quân sự Pháp không thể công khai thi hành bản án… Chiều 21/1/1952, khi Chị Sáu vừa đủ 18 tuổi, thực dân Pháp đưa ngay Chị từ nhà tù Chí Hòa ra Côn Đảo để giam trong Sở Cò đối diện nhà chúa đảo, rồi rạng sáng 23/1/1952, Chị bị giặc Pháp đưa đến sân Trại 1 để làm lễ rửa tội, đến 7 giờ sáng, Chị bị bọn chúng đưa đến sân Trại 3 phụ để xử bắn tại đây, bọn lính không dám bắn mà chính tên chúa đảo đã bắn. Thi hài Chị được đưa ra Hàng Dương chôn tại huyệt đào sẵn… Ông Tám Vàng, quê Trà Vinh, người đã chứng kiến buổi hành hình và được giao chôn cất Chị Võ Thị Sáu đã bí mật tìm 4 tấm ván làm hòm để an táng chu đáo và tối hôm ấy, kíp tù nhân làm thợ hồ ở khám 2, trại 1 đã tìm cách đúc một tấm bia bằng xi-măng đề rõ họ tên, quê quán, ngày chết đặt tại mộ. Sáng hôm sau, khi hay tin, chúa ngục Jarty đích thân dẫn lính đến đập nát tấm bia, san bằng ngôi mộ. Nhưng sáng hôm tiếp theo, ngôi mộ lại được đắp cao hơn và một tấm bia bằng xi-măng khác lại được dựng lên. Chúa ngục Jarty lại ra lệnh cho giám thị trưởng Passi chỉ huy 20 lính lôi từng người tù ra tra tấn và giam vào xà lim. Tuy nhiên, các tù nhân khổ sai vẫn tiếp tục giấu từng nhúm xi măng để dựng lại bia, đắp lại ngôi mộ. Cứ mỗi lần bị đập bia, thì sau đó bia mộ mới lại được dựng lên…

Những lời đồn đại nhanh chóng lan truyền rằng “Cô Sáu rất linh thiêng, không ai có thể đập phá được mộ của cô”, và những ai trực tiếp chỉ huy phá mộ thì vài hôm sau đã chết “bất đắc kỳ tử”, hoặc khùng khùng điên điên. Cho tới khi chế độ Việt Nam Cộng hòa (ngụy quyển Sài Gòn) tiếp quản đảo từ quân Pháp và vẫn sử dụng Côn Đảo như một trại tù chính nhằm cách ly những tù nhân nguy hiểm nhất, mà số đông là tù nhân Việt Minh và quân Giải phóng. Năm 1960, ông Tăng Tư được chính quyền Sài Gòn điều ra Côn Đảo làm Phó tỉnh trưởng, vợ ông đang mắc bệnh nan y; với niềm tin về sự linh thiêng của Cô Sáu, ông Tăng Tư (người Việt gốc Hoa) bí mật lập bàn thờ Cô Sáu trong nhà, cầu mong phù hộ cho vợ khỏi bệnh… Đến năm 1964, Tăng Tư lên chức tỉnh trưởng, bà vợ khỏi bệnh. Vợ chồng Tăng Tư liền làm lễ tạ và gieo quẻ xin phép được trùng tu ngôi mộ của Võ Thị Sáu và đã tổ chức buổi lễ long trọng đặt bia trên mộ Chị.

Đền thờ Côn Đảo được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức xây dựng từ năm 2008 để tưởng niệm, ghi nhớ công lao của các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, tại Côn Đảo; đến năm 2011 hoàn thành. Khu Đền thờ có tổng diện tích mặt bằng gần 30.000m2 ở phía trước nghĩa trang Hàng Dương; tổng mức đầu tư gần 100 tỷ đồng được tài trợ bởi nhiều doanh nghiệp trong cả nước. Mặt tiền Đền thờ Côn Đảo là một bình phong bằng 4 cột đá uy nghi, được gọi là tứ trụ. Cổng đền có 3 cửa, hai tầng mái, qua cổng đền là tháp chuông, bên trong là một đại hồng chuông có đường kính khoảng 2m, chiều cao gần 3m được đúc từ 8 tấn đồng…. Xung quanh đại hồng chuông 8 tấn là một bài minh do nhà văn hoá, Anh hùng lao động, Giáo sư Vũ Khiêu viết với ý nghĩa về một Côn Đảo hôm qua anh dũng đấu tranh vì khát vọng tự do; về một Côn Đảo hôm nay đang ra sức xây dựng và một Côn Đảo trong tương lai không xa sẽ sáng bừng lên giữa biển khơi… Khu Đền chính gồm Tiền đường và Hậu cung được nối với nhau bằng hai dãy hành lang có khoảng trống ở giữa. Hai dãy nhà hình chữ Nhị vừa cao, vừa rộng này là nơi bố trí khám thờ, bàn đặt lễ, đỉnh đồng, bài vị, hương án, lư hương lớn và đôi hạc chầu bằng đồng, hai bên là bia đá hình cuốn thư khắc tên 2.147 chiến sĩ cách mạng đã hy sinh tại nhà tù Côn Đảo trong những năm từ 1930 -1975.

Thật xúc động, tự hào, tin tưởng khi được thấy những dòng người (trong đó có nhiều doanh nghiệp, doanh nhân) vẫn hằng ngày thành tâm uống nước nhớ nguồn tới thăm viếng nơi đây.

NGUYỄN ANH DŨNG

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Back to top button
Close
Close