Kiều hối – Điểm sáng của năm qua

– Theo WB, năm 2019, các quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới lần lượt là Ấn Độ (với 82,2 tỷ USD, chiếm 2,8% GDP), Trung Quốc (70,2 tỷ USD, chiếm 0,5% GDP), Mexico (38,7 tỷ USD), Philippines (35,1 tỷ USD, chiếm 9,8% GDP), Ai Cập (26,4 tỷ USD), Nigeria (25,4 tỷ USD), Pakistan (21,9 tỷ USD), Bangladesh (17,3 tỷ USD), Việt Nam (16,7 tỷ USD) và Ukraine (15,9 tỷ USD).

Năm 2019 cũng là năm thứ ba liên tiếp Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước nhận kiều hối lớn nhất thế giới, với lượng kiều hối ước đạt 16,7 tỷ USD (chiếm 6,4% GDP), tăng 5% so với 15,9 tỷ USD năm 2018; tăng 21% so với 13,8 tỷ USD năm 2017 và tăng gần 13 lần so với mức hơn 1,3 tỷ USD vào năm 2000; tăng gần 120 lần so với 0,14 tỷ USD năm 1993.

Hoa Kỳ thường chiếm gần một nửa nguồn kiều hối của Việt Nam và TP. Hồ Chí Minh thường chiếm gần 50% tổng lượng kiều hối hàng năm của cả nước.

Lượng kiều hối chuyển về nước tăng ổn định hàng năm do bốn nguyên nhân chính: Thứ nhất, Việt Nam ngày càng gia tăng cả lượng và chất cộng đồng hơn 4 triệu kiều bào đang sinh sống, hòa nhập tại hơn 187 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới và hơn 540.000 lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài; Thứ hai, chính sách đối ngoại của Việt Nam ngày càng chủ động hội nhập và cởi mở, khuyến khích thu hút kiều hối, tăng quyền cho Việt kiều và người nước ngoài được tự do hóa đầu tư, mua bán bất động sản (hiện trên cả nước đã có hơn 3.000 doanh nghiệp, với tổng số vốn khoảng 4 tỷ USD, của người Việt Nam ở nước ngoài đang đầu tư và khoảng một nghìn người nước ngoài đăng ký sở hữu nhà); Thứ ba, sự phát triển mạnh mẽ các dịch vụ chuyển – nhận tiền nhanh, với mức phí thấp và các tiện ích hấp dẫn khách hàng khác; Thứ tư, lãi suất ở nhiều nước ngày càng giảm và niềm tin của nhà đầu tư vào kinh tế vĩ mô, tỉ giá ổn định và lạm phát ở Việt Nam ngày càng tăng…

Với trung bình khoảng 70% lượng kiều hối “đi” vào sản xuất, kinh doanh và khoảng 20% “đổ” vào thị trường bất động sản, kiều hối là một trong những nguồn cung ngoại tệ trực tiếp từ nước ngoài về Việt Nam góp phần tăng vốn đầu tư, nguồn cung ngoại tệ cho thanh toán quốc tế và dự trữ ngoại hối quốc gia; cũng như tăng nguồn tiền gửi tiết kiệm, mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa. Đặc biệt, kiều hối cùng với du lịch, xuất khẩu và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giúp tăng nguồn cung ngoại tệ cho thị trường, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc ổn định tỉ giá thời gian qua và trong tương lai. Giai đoạn 2002 – 2015, kiều hối chiếm khoảng 6,0% GDP cả nước, trong khi vốn FDI và ODA vào Việt Nam lần lượt là 7,7% và 3,0% GDP.

Hơn nữa, trên thị trường đang có những xu hướng tích cực là định hướng dòng kiều hối thành vốn đầu tư, kinh doanh; hoặc thay vì nhận kiều hối qua kênh dịch vụ, người nhận đã mở tài khoản nhận USD ở ngân hàng thương mại, rồi chuyển sang VNĐ để gửi tiết kiệm với lãi suất cao hơn. Đây cũng là hiệu ứng tích cực của các chính sách nhà nước về khuyến khích đầu tư tư nhân, thực thi chính sách tỷ giá trung tâm linh hoạt, kiểm soát lạm phát và đưa lãi suất tiền gửi ngoại tệ về 0%, cải thiện tình trạng đô la hóa nền kinh tế.

Về triển vọng, để duy trì và tiếp tục khai thông, định hướng sử dụng có hiệu quả dòng kiều hối về Việt Nam, cần nhất quán chủ trương coi trọng, tạo mọi thuận lợi và cơ hội thu hút kiều hối của Đảng và Nhà nước, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chính sách hiện có; xem xét toàn diện và tổng thể tình hình trong nước và quốc tế, tính tới sự đồng bộ và tác động hai mặt của chính sách quản lý ngoại hối nói riêng, môi trường đầu tư nói chung, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền khơi thông dòng kiều hối về nước và khuyến khích kiều bào đầu tư, kinh doanh “ích nước, lợi nhà”, góp phần xây dựng quê hương, Tổ quốc.

Đặc biệt, Ủy ban NVNONN cần kiến nghị những chính sách, biện pháp đột phá mới, tạo điều kiện hơn nữa và khuyến khích kiều bào đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, tăng cường phối hợp với các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (nhất là ở các địa bàn quan trọng, có đông NVNONN) để chủ động đổi mới, đa dạng hình thức vận động, chú trọng tập hợp thu hút các thế hệ kiều bào trẻ hướng về cội nguồn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đưa công tác dạy và học tiếng Việt đi vào chiều sâu; duy trì có hiệu quả các hình thức, như Diễn đàn” Kết nối Starup Việt trong và ngoài nước”; chương trình gặp mặt người Việt làm trong các lĩnh vực khoa học công nghệ trong và ngoài nước; Hội nghị kết nối kiều bào với địa phương.

Ngoài ra, cùng với việc cho phép chuyển tiền hộ qua người thân, cần chú ý tăng cường thông tin, đa dạng hóa kênh chuyển tiền và phát triển mạnh các dịch vụ chuyển kiều hối chính thống, nhanh, rẻ, tiện lợi và an toàn, qua hệ thống ngân hàng thương mại, tổ chức kinh tế, hải quan và bưu điện, cũng như các công ty chuyển tiền nhanh hợp pháp. Các đơn vị cung ứng dịch vụ chuyển tiền này cũng cần chủ động cải thiện tiện ích, chất lượng dịch vụ tại các phòng giao dịch ngân hàng, ATM hay Internet Banking, đáp ứng tốt hơn lượng giao dịch thường tăng đột biến vào dịp cuối năm, giảm thiểu tình trạng bị quá tải, dẫn đến việc phải chờ đợi làm thủ tục, tốn thời gian và không thích hợp khi cần nhận hay gửi tiền gấp.

Hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại ở nước ta đã tham gia vào SWIFT và liên tục được SWIFT củng cố, cập nhật những thay đổi liên quan đến hệ thống thanh toán của các thành viên SWIFT trên thế giới. Dịch vụ chuyển tiền qua hệ thống SWIFT có nhiều ưu điểm vượt trội như: tính bảo mật cao, tốc độ truyền thông tin nhanh, cho phép có thể xử lý được số lượng lớn giao dịch, và khách hàng có thể yêu cầu chuyển bất kỳ loại ngoại tệ nào với sự an toàn tuyệt đối. Bởi đây là một mạng truyền thông chỉ sử dụng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính.

Các ngân hàng vẫn đang là tổ chức có đội ngũ nhân sự được đào tạo bài bản và giàu kinh nghiệm, luôn tư vấn cho khách hàng về quy trình thủ tục giao dịch đầy đủ và đảm bảo cho khách hàng tránh được các rủi ro trong thanh toán quốc tế. Hàng năm, Bank of New York Mellon, Standard Chartered Bank, Citibank, HSBC, Wells Fargo, JP Morgan Chase… đều tổ chức đánh giá chất lượng thanh toán quốc tế của các ngân hàng TMCP Việt Nam trên cơ sở phân tích về khả năng thực hiện các giao dịch thanh toán thông suốt về tổng thể cũng như mức độ chuyên nghiệp và chất lượng của từng giao dịch hàng ngày của các ngân hàng. Trong đó, tỷ lệ điện thanh toán đạt chuẩn STP (Straight-Through-Processing) là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng việc thực hiện thanh toán tự động của các ngân hàng. Một số ngân hàng như Vietcombank, BIDV, Agribank, Ngân hàng Sài Gòn SCB… đều đạt tỷ lệ STP trên 90% theo đánh giá của các đối tác quốc tế. Gần đây nhất, ngày 14/10/2019, ngân hàng SCB còn được Bank of New York Mellon – 1 trong 10 ngân hàng tốt nhất trên thế giới – công nhận tỷ lệ STP lên tới 98%. Đây là tỷ lệ rất cao so với chuẩn chung của toàn ngành.

Theo DNĐT