Nông nghiệp

Kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp giảm 2,7%

Bộ NN&PTNT cho biết tháng 5/2020, kim ngạch xuất khẩu (XK) của ngành ước đạt 3,1 tỷ USD, giảm 2,7% so với tháng 4/2020. Trong đó, giá trị XK nhóm nông sản chính ước đạt 1,5 tỷ USD (giảm 5,0%), lâm sản chính khoảng 696 triệu USD (giảm 6,1%), thủy sản đạt 582 triệu USD (giảm 5,6%) và chăn nuôi đạt 57 triệu USD (tăng 25%)…

Tính chung 5 tháng, kim ngạch XK nông lâm thủy sản ước đạt 15,5 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, nhóm nông sản chính ước đạt gần 7,4 tỷ USD, giảm 3,2%; chăn nuôi ước đạt 210 triệu USD, giảm 19,1%; thủy sản ước đạt 2,8 tỷ USD, giảm 11,5%; lâm sản chính đạt 4,2 tỷ USD, giảm 1,9%.

Giá trị xuất khẩu cà phê đạt 1,36 tỷ USD (tăng 2,2%). Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Các mặt hàng XK tăng bao gồm: Cà phê, gạo, rau, sắn quế, mây tre… Cụ thể, giá trị xuất khẩu cà phê đạt 1,36 tỷ USD (tăng 2,2%); gạo đạt 1,4 tỷ USD (tăng 18,9%); rau đạt 310 triệu USD (tăng 17,5%); quế đạt 66 triệu USD (tăng 16,6%); mây, tre, cói thảm đạt 197 triệu USD (tăng 4,7%).

Những mặt hàng giảm, như: Cao su đạt 464 triệu USD (giảm 30,4%), chè đạt 71 triệu USD (giảm 11,3%), hồ tiêu đạt 307 triệu USD (giảm 18,5%), quả đạt 1,15 tỷ USD (giảm 21,4%), cá tra đạt 456 triệu USD (giảm 39,1%), tôm đạt 955 triệu USD (giảm 14,5%)…

Về thị trường XK, Bộ NN&PTNT cho biết tính chung 5 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường chiếm thị phần lớn nhất với kim ngạch XK đạt gần 3,7 tỷ USD, giảm 15,5% so với cùng kỳ và chiếm 23,8% thị phần, tiếp đến là Hoa Kỳ ước đạt 3,4 tỷ USD, tăng 7,0% so với cùng kỳ và chiếm 22% thị phần.

Thị trường EU ước đạt 1,6 tỷ USD, giảm 1,1% và chiếm 10,5% thị phần, XK sang Nhật Bản đạt gần 1,4 tỷ USD, tăng 3,5%, chiếm gần 9,0% thị phần, XK sang các nước ASEAN đạt gần 1,6 tỷ USD, tăng 5,5% và chiếm 10,38% thị phần.

Tính chung 5 tháng, kim ngạch nhập khẩu (NK) các mặt hàng nông lâm, thủy sản ước khoảng 12,2 tỷ USD, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm 2019. Trong đó, giá trị NK các mặt hàng nông lâm thủy sản chính ước đạt 9,6 tỷ USD, giảm 11,1%.

Ngoại trừ các mặt hàng dầu mỡ động thực vật, lúa mì và chăn nuôi có giá trị NK tăng (lần lượt là +10,9%, +25,5% và +10,6%), các mặt hàng khác đều giảm so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, phân bón giảm 10,8% (phân URE giảm 81,1%, NPK giảm 13,4%), thuốc trừ sâu giảm 29,0%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 14,2%, ngô giảm 28,1%, hạt điều giảm 25,0%, rau quả giảm 43,4%, gỗ và sản phẩm gỗ giảm 8,8%, thủy sản giảm 5,3%.

Theo VGP News

Gửi phản hồi

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Back to top button
Close
Close
%d bloggers like this: